Poster OER - Khoa Quản trị Kinh doanh
URI vĩnh viễn cho bộ sưu tập này
Duyệt qua
Gửi gần đây
Đang hiển thị 1 - 5 trong tổng số 8
- Tài liệuẢnh hưởng của niềm tin vào KOL và hiệu ứng FOMO đến quyết định mua hàng của Gen Z trên sàn TMĐT tại TP.HCM(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị kinh doanh), 2026) Phạm, Hoàng Bảo Hân; Nguyễn, Hoàng Yến Vy; Phùng, Thị Bảo Nhi; Nguyễn, Thị ToànNghiên cứu này tập trung phân tích mức độ tác động của niềm tin vào người có ảnh hưởng (KOL) và hiệu ứng bỏ lỡ (FOMO) đến quyết định mua hàng trên các sàn thương mại điện tử của thế hệ Gen Z tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu N = 513, thông qua bảng hỏi thu thập từ các đối tượng Gen Z có theo dõi KOL và có kinh nghiệm/ý định mua hàng qua KOL. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 27 qua các bước kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan và hồi quy. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng niềm tin vào KOL (đánh giá qua uy tín tổng thể) và hiệu ứng FOMO có tác động mạnh mẽ đến ý định mua hàng, qua đó chuyển hóa thành quyết định mua hàng thực tế và hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trẻ. Nghiên cứu cũng đóng góp các hàm ý chiến lược quan trọng giúp doanh nghiệp và nhà quản trị tối ưu hóa hiệu quả tiếp thị số.
- Tài liệuẢnh hưởng của cá nhân hóa bằng thuật toán, tính giải trí được cảm nhận và nhịp độ video ngắn đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trẻ trên TikTok Shop: Tiếp cận theo mô hình S-O-R(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị Kinh doanh), 2026) Lê, Phan Tấn Lộc; Võ, Phạm Như Ý; Đào,Tấn Phát; Trương, Anh Quốc (ThS.)Nghiên cứu này vận dụng mô hình Kích thích - Chủ thể - Phản ứng (S-O-R) nhằm khám phá tác động của cá nhân hóa bằng thuật toán (AP), nhịp độ video ngắn (SFVP) và tính giải trí được cảm nhận (PE) đến hành vi mua hàng ngẫu hứng (IBB) của người tiêu dùng trẻ trên TikTok Shop, thông qua vai trò trung gian của trạng thái dòng chảy (FI) và sự tình cờ cảm nhận (PS). Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu hợp lệ $N = 314$ người tiêu dùng trẻ từ 18–26 tuổi và phân tích dữ liệu qua mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM (SmartPLS 4), kết quả cho thấy phần lớn các giả thuyết trực tiếp đều được chấp nhận. Cụ thể, các yếu tố kích thích môi trường có tác động mạnh mẽ đến trạng thái tâm lý của người dùng, từ đó thúc đẩy hành vi mua hàng ngẫu hứng thông qua trạng thái dòng chảy và sự tình cờ cảm nhận. Nghiên cứu cũng chỉ ra những phát hiện thú vị (như việc cá nhân hóa thuật toán không có ý nghĩa tác động trực tiếp đến sự tình cờ cảm nhận), đồng thời đưa ra các hàm ý quản trị thiết thực cho nhà bán hàng và nền tảng trong bối cảnh thương mại điện tử mạng xã hội.
- Tài liệuMối quan hệ giữa bao bì xanh và ý định mua hàng trong siêu thị của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị kinh doanh), 2026) Nguyễn, Văn Thanh Hào; Dương, Phương Đan; Mai, Minh Triết; Đỗ, Phú Cường; Trần Hoàng Cẩm Tú (TS.)Nghiên cứu này tích hợp mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) và mô hình kích hoạt chuẩn mực (NAM) nhằm khám phá các nhân tố tâm lý chi phối ý định và hành vi mua sắm sản phẩm có bao bì xanh trong siêu thị của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu N = 270 sinh viên qua bảng hỏi Likert 5 điểm và phân tích dữ liệu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM (thông qua SPSS và SmartPLS), kết quả khảo sát cho thấy đa số sinh viên đã có xu hướng tiếp cận sản phẩm bao bì xanh nhưng hành vi này vẫn chưa thực sự trở thành thói quen phổ biến và ổn định (với 62,6% mua không thường xuyên). Nghiên cứu kiểm định thành công độ tin cậy, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt cũng như hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình đo lường, từ đó cung cấp cơ sở đề xuất các hàm ý quản trị thiết thực cho doanh nghiệp, hệ thống siêu thị và nhà trường nhằm thúc đẩy tiêu dùng xanh.
- Tài liệuẢnh hưởng của chất lượng hệ thống thông tin đến sự gắn kết khách hàng trên nền tảng E-pharmacy: Vai trò điều tiết của chất lượng tích hợp đa kênh(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị Kinh doanh), 2026) Trương, Thùy Ngọc Thủy; Trần, Quốc Khánh; Đào Thị Thu Hiền (TS.)Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của chất lượng hệ thống thông tin (dựa trên mô hình DeLone & McLean mở rộng) đến sự gắn kết khách hàng trên nền tảng nhà thuốc trực tuyến (E-pharmacy) tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của chất lượng tích hợp đa kênh. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu N = 262 người tiêu dùng có trải nghiệm thực tế và phân tích qua mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM (SmartPLS 4), kết quả chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ (SEQ), chất lượng hệ thống (SYQ) và chất lượng thông tin (INQ) đóng vai trò quyết định đến sự hài lòng (USR) và hành vi sử dụng (USE). Đáng chú ý, sự hài lòng (USR) – chứ không phải tần suất sử dụng (USE) – mới là mắt xích cốt lõi dẫn trực tiếp đến sự gắn kết khách hàng (CE). Bên cạnh đó, các yếu tố tích hợp đa kênh như tính nhất quán về quy trình (PC) và chiều rộng lựa chọn dịch vụ kênh (CCB) có vai trò điều tiết quan trọng trong mô hình. Nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị giúp các chuỗi nhà thuốc nâng cao chất lượng trải nghiệm và thúc đẩy sự gắn kết bền vững với khách hàng trong kỷ nguyên số.
- Tài liệuNghiên cứu nguyên nhân và hệ quả của việc sử dụng ChatGPT trong học tập của sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị Kinh doanh), 2026) Vũ, Thị Thơm; Lại, Cao Thăng; Phạm, Nguyễn Quốc Tú; Trần, Pạt Dếnh; Tạ, Thị Phương Huệ (ThS.)Nghiên cứu này làm rõ các nguyên nhân thúc đẩy và hệ quả của việc sử dụng ChatGPT trong học tập đối với sinh viên các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu N = 267 thông qua bảng hỏi trực tuyến và phân tích dữ liệu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính phần tử (PLS-SEM), kết quả cho thấy khối lượng học tập lớn thúc đẩy mạnh mẽ mức độ sử dụng ChatGPT, trong khi niềm tin vào khả năng học tập của bản thân có tác động ngược chiều. Bên cạnh những mặt tích cực như hỗ trợ kết quả học tập, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề phức tạp, việc lạm dụng công cụ này cũng đi kèm với rủi ro gây ra tình trạng trì hoãn học tập ở sinh viên. Nghiên cứu nhấn mạnh tính hai mặt của AI và đề xuất các hàm ý thiết thực cho sinh viên, giảng viên cũng như nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả học tập trong kỷ nguyên số.