Poster OER - Khoa Quản trị Kinh doanh
URI vĩnh viễn cho bộ sưu tập này
Duyệt qua
Đang duyệt Poster OER - Khoa Quản trị Kinh doanh theo Ngày phát hành
Đang hiển thị 1 - 8 trong tổng số 8
Kết quả mỗi trang
Tùy chọn sắp xếp
- Tài liệuCác yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng mỹ phẩm xanh từ vi tảo của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị Kinh doanh), 2026) Bùi, Ngọc Hiếu Thảo; Trần, Đông Sun; Trần, Thành (TS.)Nghiên cứu này khám phá các yếu tố tác động đến ý định sử dụng mỹ phẩm xanh từ vi tảo của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc tích hợp các nhân tố về sản phẩm, xã hội, thông tin, môi trường, rủi ro và đổi mới. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu $N = 441$ và phân tích qua mô hình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM), kết quả chỉ ra rằng nhận thức về hiệu quả và giá trị sản phẩm (EV), áp lực xã hội (SP) cùng khả năng tiếp cận thông tin (AI) là các yếu tố có tác động dương đáng kể đến nhận thức chấp nhận và ý định sử dụng (GAI). Bên cạnh đó, ý định này tiếp tục chuyển hóa mạnh mẽ thông qua thái độ (A) để tác động đến hành vi sử dụng thực tế (B) của người tiêu dùng. Nghiên cứu cung cấp cơ sở tham khảo thực tiễn giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển, minh bạch hóa thông tin và thương mại hóa hiệu quả dòng sản phẩm mỹ phẩm xanh từ vi tảo.
- Tài liệuCác yếu tố ảnh hưởng ý định học tập, làm việc và hành vi liên quan đến logistics xanh của sinh viên đại học tại TP. Hồ Chí Minh: Tiếp cận TPB mở rộng trong bối cảnh ESG(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị Kinh doanh), 2026) Trần, Đông Sun; Trần, Thành (TS.)Nghiên cứu này khám phá các yếu tố tác động đến ý định học tập, làm việc và hành vi liên quan đến logistics xanh của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc mở rộng Thuyết hành động hợp lý (TPB) trong bối cảnh ESG. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu lớn (N = 1.005$) và phân tích qua mô hình cấu trúc tuyến tính phần tử (PLS-SEM), kết quả chỉ ra rằng Giá trị môi trường cảm nhận (PEV) đóng vai trò là nhân tố tác động mạnh nhất đến Ý định logistics xanh (GLI), tiếp theo là Nhận thức tích hợp (IPG). Bên cạnh đó, ý định có mức độ tác động rất lớn đến việc hình thành Hành vi logistics xanh (GLB) thực tế của sinh viên. Nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận về hành vi tiêu dùng/nghề nghiệp bền vững của thế hệ trẻ và đưa ra các hàm ý thực tiễn nhằm giúp các cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút nhân lực và thúc đẩy các hoạt động logistics xanh tại Việt Nam.
- Tài liệuẢnh hưởng của cá nhân hóa bằng thuật toán, tính giải trí được cảm nhận và nhịp độ video ngắn đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trẻ trên TikTok Shop: Tiếp cận theo mô hình S-O-R(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị Kinh doanh), 2026) Lê, Phan Tấn Lộc; Võ, Phạm Như Ý; Đào,Tấn Phát; Trương, Anh Quốc (ThS.)Nghiên cứu này vận dụng mô hình Kích thích - Chủ thể - Phản ứng (S-O-R) nhằm khám phá tác động của cá nhân hóa bằng thuật toán (AP), nhịp độ video ngắn (SFVP) và tính giải trí được cảm nhận (PE) đến hành vi mua hàng ngẫu hứng (IBB) của người tiêu dùng trẻ trên TikTok Shop, thông qua vai trò trung gian của trạng thái dòng chảy (FI) và sự tình cờ cảm nhận (PS). Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu hợp lệ $N = 314$ người tiêu dùng trẻ từ 18–26 tuổi và phân tích dữ liệu qua mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM (SmartPLS 4), kết quả cho thấy phần lớn các giả thuyết trực tiếp đều được chấp nhận. Cụ thể, các yếu tố kích thích môi trường có tác động mạnh mẽ đến trạng thái tâm lý của người dùng, từ đó thúc đẩy hành vi mua hàng ngẫu hứng thông qua trạng thái dòng chảy và sự tình cờ cảm nhận. Nghiên cứu cũng chỉ ra những phát hiện thú vị (như việc cá nhân hóa thuật toán không có ý nghĩa tác động trực tiếp đến sự tình cờ cảm nhận), đồng thời đưa ra các hàm ý quản trị thiết thực cho nhà bán hàng và nền tảng trong bối cảnh thương mại điện tử mạng xã hội.
- Tài liệuẢnh hưởng của niềm tin vào KOL và hiệu ứng FOMO đến quyết định mua hàng của Gen Z trên sàn TMĐT tại TP.HCM(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị kinh doanh), 2026) Phạm, Hoàng Bảo Hân; Nguyễn, Hoàng Yến Vy; Phùng, Thị Bảo Nhi; Nguyễn, Thị ToànNghiên cứu này tập trung phân tích mức độ tác động của niềm tin vào người có ảnh hưởng (KOL) và hiệu ứng bỏ lỡ (FOMO) đến quyết định mua hàng trên các sàn thương mại điện tử của thế hệ Gen Z tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu N = 513, thông qua bảng hỏi thu thập từ các đối tượng Gen Z có theo dõi KOL và có kinh nghiệm/ý định mua hàng qua KOL. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 27 qua các bước kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan và hồi quy. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng niềm tin vào KOL (đánh giá qua uy tín tổng thể) và hiệu ứng FOMO có tác động mạnh mẽ đến ý định mua hàng, qua đó chuyển hóa thành quyết định mua hàng thực tế và hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trẻ. Nghiên cứu cũng đóng góp các hàm ý chiến lược quan trọng giúp doanh nghiệp và nhà quản trị tối ưu hóa hiệu quả tiếp thị số.
- Tài liệuGiải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng sử dụng ứng dụng điện tử tại ngân hàng TMCP quân đội thành phố Hồ Chí Minh(Khoa Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, 2026) Phạm, Thị Vui; Trương, Anh Quốc (ThS.)Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân sử dụng ứng dụng MB Bank tại TP. Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp nâng cao sự hài lòng. Mô hình đề xuất gồm sáu yếu tố: tính dễ sử dụng, tính bảo mật, chất lượng hệ thống, chất lượng dịch vụ hỗ trợ khách hàng, sự hữu ích và sự tin cậy, dựa trên TAM, DeLone & McLean và E-S-QUAL. Nghiên cứu dùng phương pháp hỗn hợp, lấy mẫu phi xác suất với 257 mẫu hợp lệ, phân tích bằng Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy năm yếu tố có ảnh hưởng tích cực, theo thứ tự giảm dần: chất lượng hệ thống (β = 0,246), sự hữu ích (0,221), tính bảo mật (0,187), tính dễ sử dụng (0,186) và chất lượng dịch vụ hỗ trợ (0,141); sự tin cậy không có ý nghĩa thống kê. R² hiệu chỉnh = 0,200.
- Tài liệuNghiên cứu nguyên nhân và hệ quả của việc sử dụng ChatGPT trong học tập của sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị Kinh doanh), 2026) Vũ, Thị Thơm; Lại, Cao Thăng; Phạm, Nguyễn Quốc Tú; Trần, Pạt Dếnh; Tạ, Thị Phương Huệ (ThS.)Nghiên cứu này làm rõ các nguyên nhân thúc đẩy và hệ quả của việc sử dụng ChatGPT trong học tập đối với sinh viên các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu N = 267 thông qua bảng hỏi trực tuyến và phân tích dữ liệu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính phần tử (PLS-SEM), kết quả cho thấy khối lượng học tập lớn thúc đẩy mạnh mẽ mức độ sử dụng ChatGPT, trong khi niềm tin vào khả năng học tập của bản thân có tác động ngược chiều. Bên cạnh những mặt tích cực như hỗ trợ kết quả học tập, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề phức tạp, việc lạm dụng công cụ này cũng đi kèm với rủi ro gây ra tình trạng trì hoãn học tập ở sinh viên. Nghiên cứu nhấn mạnh tính hai mặt của AI và đề xuất các hàm ý thiết thực cho sinh viên, giảng viên cũng như nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả học tập trong kỷ nguyên số.
- Tài liệuẢnh hưởng của chất lượng hệ thống thông tin đến sự gắn kết khách hàng trên nền tảng E-pharmacy: Vai trò điều tiết của chất lượng tích hợp đa kênh(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị Kinh doanh), 2026) Trương, Thùy Ngọc Thủy; Trần, Quốc Khánh; Đào Thị Thu Hiền (TS.)Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của chất lượng hệ thống thông tin (dựa trên mô hình DeLone & McLean mở rộng) đến sự gắn kết khách hàng trên nền tảng nhà thuốc trực tuyến (E-pharmacy) tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của chất lượng tích hợp đa kênh. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu N = 262 người tiêu dùng có trải nghiệm thực tế và phân tích qua mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM (SmartPLS 4), kết quả chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ (SEQ), chất lượng hệ thống (SYQ) và chất lượng thông tin (INQ) đóng vai trò quyết định đến sự hài lòng (USR) và hành vi sử dụng (USE). Đáng chú ý, sự hài lòng (USR) – chứ không phải tần suất sử dụng (USE) – mới là mắt xích cốt lõi dẫn trực tiếp đến sự gắn kết khách hàng (CE). Bên cạnh đó, các yếu tố tích hợp đa kênh như tính nhất quán về quy trình (PC) và chiều rộng lựa chọn dịch vụ kênh (CCB) có vai trò điều tiết quan trọng trong mô hình. Nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị giúp các chuỗi nhà thuốc nâng cao chất lượng trải nghiệm và thúc đẩy sự gắn kết bền vững với khách hàng trong kỷ nguyên số.
- Tài liệuMối quan hệ giữa bao bì xanh và ý định mua hàng trong siêu thị của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (Khoa Quản trị kinh doanh), 2026) Nguyễn, Văn Thanh Hào; Dương, Phương Đan; Mai, Minh Triết; Đỗ, Phú Cường; Trần Hoàng Cẩm Tú (TS.)Nghiên cứu này tích hợp mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) và mô hình kích hoạt chuẩn mực (NAM) nhằm khám phá các nhân tố tâm lý chi phối ý định và hành vi mua sắm sản phẩm có bao bì xanh trong siêu thị của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu N = 270 sinh viên qua bảng hỏi Likert 5 điểm và phân tích dữ liệu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM (thông qua SPSS và SmartPLS), kết quả khảo sát cho thấy đa số sinh viên đã có xu hướng tiếp cận sản phẩm bao bì xanh nhưng hành vi này vẫn chưa thực sự trở thành thói quen phổ biến và ổn định (với 62,6% mua không thường xuyên). Nghiên cứu kiểm định thành công độ tin cậy, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt cũng như hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình đo lường, từ đó cung cấp cơ sở đề xuất các hàm ý quản trị thiết thực cho doanh nghiệp, hệ thống siêu thị và nhà trường nhằm thúc đẩy tiêu dùng xanh.